Chi tiết bài viết

BỆNH GẠO VÀ GIẢI PHÁP PHÒNG TRỊ BỆNH GẠO TRÊN CÁ TRA

Kỹ thuật Chuyên gia

Ts Nguyễn Thị Thu Hằng - Trường Thủy Sản, Đại Học Cần Thơ

Bệnh gạo là bệnh do ký sinh trùng thường gặp trên cá tra nuôi thâm canh ở Đồng Bằng Sông Cửu Long. Do trong cơ cá có những túi hình tròn hoặc bầu dục, màu trắng sữa giống hạt gạo nên được gọi là “Bệnh gạo”. Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Hằng & Đặng Thị Hoàng Oanh (2017) thuộc Khoa Bệnh học Thuỷ sản - Trường Thuỷ sản - Đại học Cần thơ cho thấy, bệnh gạo do vi bào tử trùng Kabatana sp. nhiễm trong cơ cá tra từ giai đoạn cá hương, cá giống đến giai đoạn nuôi thương phẩm.

 

Bệnh gạo trên cá tra có thể xuất hiện quanh năm và không biểu hiện rõ tính mùa vụ. Tuy nhiên, tỷ lệ nhiễm bệnh có xu hướng phát triển mạnh ở những ao nuôi mật độ cao, tích lũy nhiều chất hữu cơ, môi trường ô nhiễm hoặc khi cá bị stress kéo dài. Ngoài ra, vi bào tử trùng có khả năng tồn tại dai dẳng trong môi trường và lây lan qua thức ăn, nước hoặc cá nhiễm bệnh, nên bệnh thường khó kiểm soát triệt để và có thể tái nhiễm trong nhiều giai đoạn của vụ nuôi.

 

Bệnh gạo thường không gây chết cấp tính, nhưng bệnh sẽ làm giảm tỷ lệ sống của cá hương và cá giống, đặt biệt là ảnh nghiêm trọng đến chất lượng cơ thịt và giá trị xuất khẩu ở cá thương phẩm. Vì vậy, việc quản lý tốt môi trường nuôi, hạn chế nguồn lây nhiễm bệnh gạo và sử dụng sản phẩm hỗ trợ kiểm soát bệnh gạo như UV-Iver 1% đúng cách sẽ giúp giảm nguy cơ phát sinh bệnh và nâng cao hiệu quả nuôi.

I. TÁC NHÂN GÂY BỆNH

Tác nhân gây bệnh gạo trên cá tra là vi bào tử trùng Kabatana sp. Đây là nhóm ký sinh nội bào bắt buộc, sinh trưởng và phát triển bên trong tế bào ký chủ. Trong quá trình phát triển, vi bào tử trùng tạo thành các cấu trúc dạng túi có màng bao bọc bên ngoài, gọi là “bào nang”. Bên trong mỗi bào nang chứa rất nhiều bào tử nhỏ.

Hình 1. Cấu tạo vi bào tử trùng nhiễm trong cơ cá tra

Mỗi bào tử có cấu tạo khá phức tạp, gồm vách bào tử với ba lớp màng bao bọc. Bên trong bào tử chứa các cấu trúc đặc trưng như sợi cực (polar tube), nhân và không bào sau. Sợi cực có dạng hình ống, cuộn xoắn như lò xo; số vòng cuộn thay đổi tùy loài, có thể từ vài vòng đến hơn 30 vòng. Ở phần đỉnh bào tử có đĩa neo giúp cố định sợi cực. Ngoài ra, trong tế bào chất còn có nhân dạng hình cầu và các thành phần tế bào chất phân bố xung quanh.

 

II. DẤU HIỆU BỆNH GẠO TRÊN CÁ TRA

Dấu hiệu bên ngoài: Cá nhiễm bệnh thường bơi yếu, giảm ăn, tăng trưởng chậm, kích cỡ đàn cá không đồng đều. Trên da cá có nhiều lổ nhỏ li ti, phồng rộp và bong ra.

 

Hình 2. Dấu hiệu bên ngoài cơ thể cá tra

Dấu hiệu bên trong cơ thịt (quan sát sau khi phi-lê): Trong cơ thịt xuất hiện nhiều hạt màu trắng giống hạt gạo. Các bào nang gạo có dạng hình tròn hoặc dạng vệt dài, phân bố gần xương cá, rải rác khắp cơ thịt hoặc tập trung nhiều ở vùng cơ lưng.

Hình 3. Dấu hiệu bên trong cơ thể cá tra

III. CƠ CHẾ GÂY BỆNH

Màu sắc bào nang thay đổi tùy giai đoạn phát triển, từ trắng đục, vàng nhạt đến vàng nâu; một số trường hợp bào nang chuyển màu đen. Kích thước bào nang dao động khoảng 0,5-10 mm. Ở cá giống, bào nang thường nhỏ hơn và đa hình dạng hơn so với cá thịt. Tuy nhiên, trong một số trường hợp ở cá hương cũng có thể xuất hiện các bào nang kích thước lớn.

Vi bào tử trùng gây bệnh cho cá có vòng đời bao gồm 2 giai đoạn: giai đoạn tăng sinh và giai đoạn hình thành bào tử. Cả 2 giai đoạn này đều diễn ra trong tế bào của ký chủ. Quá trình phát triển của vi bào tử trùng bắt đầu từ bào tử tự do ngoài môi trường nước, khi gặp điều kiện thích hợp bào tử sẽ xâm nhập vào tế bào chủ theo 2 cơ chế chính (Vergneau-Grosset & Larrat, 2015).

⁃ Thứ nhất: bào tử phóng thích ống cực để xâm nhập vào màng tế bào ký chủ một cách chủ động. Sau đó, bào tử chất (sporoplasm) sẽ được truyền qua một ống cực di chuyển đến cơ quan đích và bắt đầu giai đoạn tăng sinh (merogony), tạo ra một số lượng lớn bào tử giai đoạn meront bằng cách phân đôi. Sau đó, meront tiếp tục phát triển thành sporont rồi hình thành bào tử trưởng thành. Bào tử trưởng thành được giải phóng ra môi trường thông qua các tổn thương trên bề mặt cơ thể hoặc sau khi vật chủ cá chết.

⁃ Thứ hai: bào tử xâm nhập vào tế bào một cách thụ động, sau đó bào tử bị tế bào chủ thực bào. Tuy nhiên, tế bào chủ không thể tiêu hóa được bào tử và bị bào tử ký sinh phát triển tại vị trí đó và tiếp tục phát triển qua các giai đoạn tăng sinh (merogony) như cách thứ nhất.

IV. TÁC HẠI TRÊN CÁ TRA

Khi cá bị bệnh gạo do nhiễm vi bào tử trùng Kabatana sp. trong cơ, dù nhiễm ở mức độ nhẹ hay nặng vẫn làm cá tăng trưởng chậm, giảm chất lượng phi-lê, giảm giá bán thương phẩm và tăng nguy cơ bội nhiễm với các mầm bệnh khác.

V. CHUẨN ĐOÁN BỆNH

Sử dụng nhiều phương pháp khác nhau, từ quan sát thực địa đến kỹ thuật sinh học phân tử hiện đại. Việc lựa chọn phương pháp chẩn đoán bệnh gạo phụ thuộc vào mục tiêu: phát hiện nhanh, xác định tác nhân, đánh giá mức độ nhiễm hay nghiên cứu chuyên sâu. Tuy nhiên, trong điều kiện phòng xét nghiệm thủy sản hiện nay, quy trình thường áp dụng là:

⁃ Quan sát dấu hiệu bên ngoài da và bên trong cơ thịt cá

⁃ Soi tươi: lấy mẫu cơ thịt nghi nhiễm gạo đặt lên lame kính, ép nhẹ và quan sát dưới kính hiển vi 4x-40x

⁃ Mô bệnh học để đánh giá tổn thương, đáp ứng mô của ký chủ.

⁃ Chẩn đoán bằng sinh học phân tử: PCR, Nested PCR, Real-time PCR (qPCR).

VI. GIẢI PHÁP PHÒNG - TRỊ BỆNH 

1. Phòng bệnh cho cá tra

⁃ Quản lý nguồn nước đầu vào, hạn chế ký chủ trung gian

⁃ Kiểm tra bệnh gạo giai đoạn cá bột, hương, giống trước khi thả nuôi

⁃ Quản lý mật độ nuôi hợp lý, sử dụng thức ăn đảm bảo chất lượng

⁃ Kiểm tra định kỳ: mổ khám 5 mẫu cá/15 ngày/lần

⁃ Định kỳ sổ gạo: 30 ngày/lần

2. Điều trị bệnh gạo bằng UV-Iver 1%

  • Công dụng: 

UV-Iver 1% chứa hoạt chất Ivermectin, có tác dụng diệt vi bào tử trùng Kabatana sp. gây bệnh gạo trên cá tra.

  • Cách sử dụng: 

⁃ Trộn UV-Iver 1% vào thức ăn theo liều 100ml/8-10 tấn cá

⁃ Cho cá ăn liên tục 3-5 ngày

⁃ Có thể trộn với dầu cá để tăng độ bám dính của thuốc vào thức ăn

⁃ Ngưng sử dụng thuốc trước thu hoạch 15 ngày

  • Khuyến cáo kỹ thuật: 

⁃ Theo dõi cá thường xuyên trong suốt quá trình phát triển của bệnh gạo để phát hiện sớm dấu hiệu bệnh và có biện pháp xử lý kịp thời. Mức độ điều trị phụ thuộc vào đặc điểm và giai đoạn phát triển của bào nang gạo:

  • Bào nang nhỏ, màu trắng sữa, vách mỏng: giai đoạn sớm, khả năng điều trị hiệu quả cao.
  • Bào nang phát triển lớn hơn, màu trắng sữa, vách vẫn còn mỏng: tương đối dễ điều trị.
  • Bào nang lớn, chuyển màu vàng, vách dày: điều trị khó hơn do thuốc khó vận chuyển vào trong bào nang.
  • Cơ thịt cá xuất hiện nhiều bào nang lớn màu vàng, có hiện tượng xơ cứng, da phồng rộp hoặc hoại tử cơ: rất khó điều trị và hiệu quả phục hồi thấp.

⁃ Kết hợp quản lý môi trường nuôi để nâng cao hiệu quả điều trị. Nên tiến hành “xổ gạo” vào thời điểm nước rong, khi cá bắt mồi mạnh để tăng hiệu quả sử dụng thuốc và hỗ trợ cá phục hồi tốt hơn.

 


Đang xem: BỆNH GẠO VÀ GIẢI PHÁP PHÒNG TRỊ BỆNH GẠO TRÊN CÁ TRA

Tư vấn

Tư vấn

article